Home Tin tức Nội thất Tin Việt Nam Bài toán thiếu nguyên liệu của ngành mây tre đan Việt Nam

Bài toán thiếu nguyên liệu của ngành mây tre đan Việt Nam

Thiếu nguyên liệu sản xuất ngành mây tre đan xuất khẩu

Ngành mây tre đan là một trong số những ngành hàng xuất khẩu nổi tiếng của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu so sánh với những mặt hàng tỷ USD khác, kim ngạch xuất khẩu mây tre đan còn khá “khiêm tốn”, song nếu thực sự có chiến lược phát triển bài bản, đầu tư đúng mức thì xuất khẩu mây tre đan còn có nhiều khả năng bứt phá ngoạn mục trong tương lai. Và một trong số những bài toán khó của ngành chính là thiếu vùng nguyên liệu.

Xuất khẩu mây tre đan Việt Nam chiếm 3% thị phần thế giới

Việt Nam có khoảng trên 1000 làng nghề mây tre đan, chiếm 24% tổng số các làng nghề trong cả nước. Đến nay, các sản phẩm mây tre đan đã xuất khẩu tới hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu trung bình đạt trên 200 triệu USD/năm, chiếm khoảng 14% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong cả nước. Các thị trường xuất khẩu chính của nhóm hàng này là Hoa Kỳ, Nhật Bản,…

Mặc dù đã có sự gia tăng song điểm đáng lưu ý trong xuất khẩu mây tre đan là Việt Nam hiện đang chiếm thị phần rất nhỏ trên thị trường thế giới. Cụ thể, theo thống kê của Trademap (hệ thống cơ sở dữ liệu cập nhật về tình hình thương mại của các nước): Thị phần mây tre đan Việt Nam trên thị trường thế giới mới đạt khoảng 3,37%. Trong đó, thị trường chủ đạo nhập khẩu mây tre lá của Việt Nam là Hoa Kỳ, chiếm đến 20% và Nhật Bản chiếm 16% tổng giá trị xuất khẩu.

Một số chuyên gia đánh giá, cơ hội phát triển cho ngành hàng mây tre đan của Việt Nam còn khá rộng mở. Khả năng nâng con số 3,37% thị phần thế giới lên khoảng 8-10% trong tương lai hoàn toàn khả thi. Cùng với đó, kim ngạch xuất khẩu của ngành này có thể đạt tới 1 tỷ USD chứ không chỉ mãi “đì đẹt” vài trăm triệu USD mỗi năm như hiện tại.

Một số thị trường mới nổi những năm gần đây như Trung Quốc, Tây Ban Nha, Nga, Australia… đang có xu hướng nhập khẩu nhiều các mặt hàng mây tre đan từ Việt Nam. Cụ thể, những năm gần đây, Trung Quốc và Tây Ban Nha đã gia tăng nhập khẩu các mặt hàng mây tre đan Việt Nam với mức tăng lần lượt là 40%/năm và 13,2%/năm.

Thiếu vùng nguyên liệu ngành mây tre

Một trong những thực trạng đáng báo động của ngành mây tre đan Việt Nam chính là thiếu nguyên liệu. Các vùng nguyên liệu tự nhiên trong nước đã cạn kiệt, buộc chúng ta phải nhập khẩu từ các nước láng giềng như: Trung Quốc, Lào,… Đó cũng là một trong số các nguyên nhân khiến ngành mây tre đan xuất khẩu bị “ì ạch” như thời gian vừa qua. Thiếu nguyên liệu khiến cho các doanh nghiệp không chủ động được giá cả, kế hoạch sản xuất, mất đi tính cạnh tranh trên thị trường.

+/ Thực trạng

Việt Nam ta có nhiều tiềm năng và lợi thế để trồng và phát triển tre nứa, luồng, song mây phục vụ đan lát nhưng hiện Việt Nam vẫn phải nhập khẩu nhóm nguyên liệu này cho sản xuất chế biến từ một số nước trong khu vực.

Trước kia, nguồn nguyên liệu mây tre đan của Việt Nam ta khá dồi dào, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hòa và các tỉnh Tây Nguyên. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ qua, do tình hình khai thác và xuất khẩu nguyên liệu thô một cách ồ ạt, thiếu bền vững, thiếu quy hoạch và quản lý nên nguồn nguyên liệu song mây tự nhiên của Việt Nam đã cạn kiệt.

Theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, hàng năm Việt Nam tiêu thụ khoảng 900 triệu cây tre nứa cho các mục đích khác nhau, thống kê năm 2020 khoảng 1 tỷ cây. Việt Nam hiện có xấp xỉ 1,5 triệu ha tre nứa với trữ lượng ước tính khoảng 6 tỷ cây. Tuy vậy, phần lớn diện tích tre nứa này là rừng phòng hộ, rừng nguyên sinh cần phải bảo tồn, không được khai thác. Diện tích tre trồng sản xuất cả nước hiện có khoảng 85.000 ha, trữ lượng 350 triệu cây, mới chỉ đáp ứng được 1/3 nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất hàng mây tre đan.

Giải pháp thúc đẩy trồng vùng nguyên liệu mây tre đan
Các giải pháp thúc đầy trồng tre, nứa, song, mây phục vụ sản xuất

+/ Giải pháp

Việc trồng các loại cây mây, tre, song, nứa,… để phát triển vùng nguyên liệu bền vững là giải pháp lâu dài cho toàn ngành. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và trồng ra sao cũng là một bài toán cần giải quyết.

GS.TS Võ Đại Hải, Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cho hay, tre nứa chính là nhóm lâm sản ngoài gỗ có diện tích lớn nhất hiện nay. Các nhà khoa học đã điều tra phân loại được trên 200 loài tre, trúc, luồng ở Việt Nam. Trong đó, hơn 10 loài tre nứa có tiềm năng sản xuất dùng trong thương mại, như: luồng, lung, bương, mai, diễn, tre gai, nứa, vầu, trúc, lồ ô, tầm vuồng, giang, le… Tuy nhiên, một số loại tre chủ yếu là khai thác chứ chưa nhân được giống trồng, bắt đầu có các thử nghiệm chiết gốc ra để trồng nên không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, không đồng nhất về chất lượng. Tình hình khai thác chưa được quy hoạch, khai thác quá mức, dẫn đến thoái hóa tre, không có tổ chức, không bền vững.

Bên cạnh đó, sự liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị tre còn lỏng lẻo, thiếu hiệu quả, không đảm bảo tính công bằng và minh bạch. Chính điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc của sản phẩm và làm giảm sức cạnh tranh của mặt hàng thủ công mỹ nghệ và gia dụng làm từ tre của Việt Nam trên thế giới.

Tiềm lực, lợi thế của chuỗi ngành tre được đánh giá chưa phát triển xứng tầm bởi quy mô còn hạn chế, hệ thống thu gom, buôn bán tự phát, nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu phục vụ xây dựng, đan lát giá trị thấp. Đặc biệt, Việt Nam chưa có đủ tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng tre, chứng chỉ rừng, giải pháp lâm sinh ứng dụng cho tre nứa còn nhiều hạn chế, thiếu các phương án quản lý rừng bền vững, vùng nguyên liệu vẫn còn phân tán.

Nhìn thấy tiềm năng, thế mạnh của mây, tre, luồng, một số địa phương đang phát triển trồng tre luồng hàng hóa. Hiện có Dự án “Phát triển bền vững chuỗi giá trị nghêu và tre tại Việt Nam” trị giá 4,3 triệu Euro do EU và Oxfarm đồng tài trợ được thực hiện trong 4 năm (2018 – 2022) tại 5 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Bến Tre, Trà Vinh và Tiền Giang. Dự án đang mang lại lợi ích cho 150 nhóm sản xuất trồng tre với 35.000 thành viên và 60 doanh nghiệp chế biến mây tre vừa và nhỏ.

Thanh Hóa là địa phương có trữ lượng tre, luồng lớn nhất cả nước, với 152.659 ha tre, luồng phân bố chủ yếu ở 11 huyện phía Tây của tỉnh. Trong đó, hàng chục nghìn ha tre, luồng là rừng trồng. Hàng năm, Thanh Hóa cung cấp ra thị trường khoảng 0,8 triệu tấn tre, luồng. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, năng suất trồng tre, luồng ở Thanh Hóa vẫn còn thấp, nếu được quản lý, bảo vệ, chăm sóc thâm canh, khai thác đúng quy trình kỹ thuật, hàng năm có thể cung cấp ra thị trường khoảng 1,6 triệu tấn.

Để phát huy tiềm năng, thế mạnh này, tỉnh Thanh Hóa có nhiều chính sách khuyến khích, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào công nghiệp chế biến tre luồng. Qua đó, trên địa bàn tỉnh đã có 126 cơ sở chế biến sản phẩm từ tre, luồng, gồm 9 HTX, 17 công ty trong nước, 1 công ty nước ngoài và 99 hộ kinh doanh cá thể. Cuối năm 2019, Hiệp hội tre luồng tỉnh Thanh Hóa đã được thành lập với Quyết định số 2869/ QĐ-UBND tỉnh, nhằm quảng bá hình ảnh, tiềm năng tre luồng xứ Thanh; thúc đẩy thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp chế biến tre luồng của địa phương.

Nguồn: vnbusiness.vn


=> Xem thêm: TOP 20 làng nghề mây tre đan nổi tiếng khắp cả nước

Xem thêm chủ đề liên quan
Comments are closed.

Check Also

Top 25+ mẫu tủ giày gỗ MDF màu trắng nổi bật không lo lỗi mốt

Với những khách hàng có gu thẩm mỹ cá tính thì những mẫu tủ giày gỗ MDF màu trắng luôn là …